Nhiều người hỏi Tôi rằng salted fish và dried fish khác nhau như thế nào? Vì đối tác họ nhầm lẫn salted fish là dried fish hay ngược lại.
Trước khi trả lời, Tôi xin đề cập sự khác biệt giữa dried fish ở Châu Á và dried fish ở Châu Âu. Hay nói khác hơn, đó là sự khác biệt giữa cách dùng từ Anh Ngữ giữa người Á Đông và Phương Tây
Tháng 4/2005, sau khi rời vùng biển Samsampo (thắng cảnh du lịch Nam Hàn Quốc) Tôi tới Busan, khách hàng công ty chúng Tôi, Mr. Ducky Hee Sohn dẫn Tôi đi ngang qua một chợ Xổm cạnh bãi biển Busan trước khi đi ăn tối. Tại đây, Mr. Sohn đưa Tôi xem và giải thích rõ mặt hàng Cattle fish of half dried and half froren. Nó giống hệt mực nang Vũng Tàu đang lám xuất bán sang Trung Quốc. Độ ẩm khoảng 30 – 35%, mềm yếu như Việt Nam thường gọi nhưng khô hơn cá cơm mồm Đài Loan. Trong 3 kho lạnh Mr. Sohn còn tồn 5.5 tấn hàng như vậy từ cuối năm 2004, bán ra rất chậm nên ông ta phải đi bán lẻ cho từng sạp hàng ở Busan theo cách gối đầu, trả chậm. Ông ta nói rằng đây là thất bại của ông về phát triển sản phẩm mới, thất bại về marketing sau khi ông đi nghiên cứu mặt hàng này ở thị trường Italian. Ông ta khuyên Tôi rằng” you’re young man and keep out my faulty of new launch dried fish in Korea”. Tất nhiên
Tôi phải “say yes” vì Mr. Sohn lớn hơn Tôi 10 tuổi và thâm niên trong ngành bán lẻ tại Busan khá dài nhưng Tôi lại có một suy nghĩ khác hơn một chút vì: Sau khi tham dự World Food Moscow Sep 2005, Tôi để ý rằng rất ít khách hàng Moldova, Kazactan, Estonia, Nga, dùng từ dried fish nói chuyện với Tôi. Họ chỉ nói đơn giản Anchovy – cá cơm hay yellow tail scad – cá đổng, big eye herring – cá mắt kiếng hay yellow stripe trevally – cá chỉ vàng.
Thay vì họ nói cá tẩm gia vị - seasoned fish họ dùng từ salted fish để ngắn gọn hơn để chỉ vừa là dried fish vừa là seasoned fish.
Người Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản tới Việt Nam thường dùng từ “dried” khi nói mua cá khô. Có thể đây chỉ là đặc điểm người Châu Á nói tiếng Anh, “dried” sử dụng rộng rãi cho tất cả những mặt hàng cá khô và cá tẩm.
- Dried Anchovy
- Dried Herring
- Dried Leather facket fish
- Dried Round Scad
- Dried squid (head and wing)
Trên đây là năm mặt hàng trong số sáu mặt hàng chủ lực của công ty DKPT chúng Tôi tại các nước Châu Á như: Korea, Malaixia, Taiwan và HongKong. Mặt khác, người Nga, Ukraine hay các nước Liên Xô cũ trước đây như Belarus, Latvia… lại ưa dùng từ salted fish – ngay cả người Đức Tôi gặp tại Hamburg và Bremen cũng vậy.
Salted fish is ok but dried fish. Đây là ngữ phạm tiếng Anh trong văn hoá phương Tây là như thế - và có thể họ cho rằng độ ẩm dried fish thì quá khô, làm cá quá cứng trong khi độ ẩm salted fish có thể là 20% cho anchovy, yellow stripe trevelly (ở Nga) nhưng có thể là 28% - 35% cho salmon, eel, saith (ở Đức) cho squid (ở Italia, Tây Ban Nha)
Như vậy, sự khác biệt của dried và salted fish ở chỗ độ ẩm, tẩm gia vị và tuỳ theo thời gian sử dụng tên hàng của từng thị trường, từng người dân, người tiêu dùng. Điểm giống nhau ở đây là cùng một tên hàng cá khô nhưng cũng sản phẩm đó, mỗi thị trường yêu cầu khác nhau. hầu hết người Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan và Mãn Châu Trung Quốc là ăn khẩu vị lạt – 0.3% muối trong khô. Đông Âu và Đức lại mặn hơn 0.5% - 0.7%. Có thể bạn còn thắc mắc, xin hãy liên hệ với chúng Tôi phuthanhseafood@hcm.vnn.vn